T2 – T7 : 08:00 – 21:00
Số 37 -39 Phùng Khoang 2, Trung Văn,Từ Liêm, HN
thaoduochonghanh.vn@gmail.com
01695338005 – 0932123556

Đương Quy và công dụng của Đương Quy

Đương Quy

cay-duong-quy

  1. Tên gọi và đặc điểm hình thái

Cây đương quy còn được gọi là Tần Quy, Can Quy.
Tên khoa học là: Anglelica sinensis (Oliv) Diels.
Nó thuộc họ hoa tán: Apiacaeae (Umbellierae
Nó thuộc họ hoa tán: Apiacaeae (Umbellierae )
1.1. Đặc điểm hình thái
Rễ: Rễ cọc có rễ phụ, rễ chất thịt màu vàng hoặc vàng đất. Đây là bộ phận dung để làm thuốc.
Thân: thân thảo sống lâu năm, cây cao khoảng 40 – 80cm, khi ra hoa thân cây cao 1m, thân có màu tím
Lá: lá thuộc loại lá kép, có răng cưa không có lông. Cuống lá phát triển thành bẹ bao bọc lấy thân.
Hoa: hoa thuộc loại hoa tán, tán kép gồm từ 12 – 40 hoa, hoa có màu trắng nở tập trung vào tháng 7 – 8.
Quả: quả bẻ đôi hình dẹt, có vân màu trắng, màu vàng hay màu vàng đất.
1.2Thành phần hoá học
Trong đương quy có chứa tinh dầu chiếm 0.2%, có tỉ trọng là 0.955 ở t0 = 150C, có màu vàng sẫm trong.
Tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%.
Thành phần chủ yếu của tinh dầu đương quy chủ yếu gồm có:
n. butyliden phtalit C12H12O2.
n. valerophenon O – cacboxyaxit C12H14O3
ngoài ra còn có
n. butylphtalit C12H14O2
beegapten C12H3O2, seoquyteepen, safrola và một số vitamin B12
1.3. Điều kiện sinh thái
Đương quy là cây mọc ở độ cao 2000 – 3000m so với mặt nước biển.
Nó thích hợp với nơi có lượng mưa nhiều và phân bố đồng đều. Lượng mưa cả năm đạt trung bình khoảng 1034mm.
Đương quy là cây yêu cầu về nhiệt độ tương đối mát mẻ vì nó có nguồn gốc ở vùng ôn đới, nhiệt độ thích hợp nhất cho nó sinh trưởng và phát triển từ 18 – 300C, nhiệt độ tối thấp mà nó có thể chịu đựng được là -70C.
Lúc còn non: ưa sống nơi đất xốp, tầng đất dày, nhiều mùn và ít ánh sang.
Khi lớn: nó ưa trồng nơi khuất gió đủ ánh sang, tiện lợi cho việc tưới nước, đất thoát nước tốt, thuận lợi nhất là đất pha cát, pH đất thích hợp là từ 5.5 – 6.5.

2. Công dụng của Đương Quy

Củ Đương Quy

Củ Đương Quy

Y học cổ truyền (YHCT) chia bệnh về huyết thành một số thể như huyết hư, huyết trệ, xuất huyết. Huyết hư: biểu hiện da xanh xao, mắt thâm quầng, nhiều lòng trắng, môi thâm, lưỡi nhợt nhạt, người gầy yếu, kém ăn, mất ngủ, thường xuyên choáng váng, đau đầu, hoa mắt…, thường gặp ở những người mới ốm dậy, người già, phụ nữ sau khi sinh hoặc sau mắc sốt rét, sốt xuất huyết, viêm gan, nhiễm ký sinh trùng (giun móc, giun tóc)… Để điều trị, YHCT thường sử dụng các thuốc bổ huyết như: đương quy, thục địa, bạch thược, long nhãn… Huyết trệ (hay huyết ứ): cơ thể bị chấn thương tụ máu gây bầm tím, cơ nhục đau đớn, đau dây thần kinh, đau xương, khớp…; hoặc bế kinh, đau bụng kinh; hoặc ứ huyết sau sinh gây đau bụng, hoặc huyết lưu thông kém gây tức ngực, đau sườn, đau đầu, choáng váng… Trường hợp này thường sử dụng các thuốc hoạt huyết, như đan sâm, ích mẫu, kê huyết đằng, tô mộc, nga truật… Xuất huyết: biểu hiện như xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, chảy máu đường tiêu hóa (dạ dày, ruột…), trĩ xuất huyết, băng kinh… Thường dùng các thuốc mang tính chỉ huyết như địa du, trắc bách diệp, hà diệp, cỏ nhọ nồi, đại kế, tiểu kế… (sao đen hoặc sao cháy). Trên thực tế lâm sàng, các chứng bệnh thường xuất hiện đan xen các triệu chứng, như vừa bị chứng huyết hư lại kèm chứng ứ huyết, vừa bị thiếu máu lại bị bế kinh, đau bụng… hoặc vừa bị thiếu máu song vẫn bị chảy máu cam, xuất huyết dưới da… Để điều trị các triệu chứng trên, đương quy là vị thuốc phù hợp nhất. Qua thực tế điều trị người ta thấy phần đầu của đương quy (quy đầu) vừa có tác dụng bổ huyết song lại thiên về tác dụng chỉ huyết; còn phần các đuôi rễ (quy vĩ), ngoài tác dụng bổ huyết, lại thiên về tác dụng hoạt  huyết. Do đó tác dụng của đương quy dùng để trị các bệnh sau: Thiếu máu dẫn đến hoa mắt, chóng mặt, da dẻ xanh xao, người gầy yếu : đương quy, xuyên khung, bạch thược, thục địa mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1thang, uống liền 3 – 4 tuần lễ đến khi các triệu chứng thuyên giảm. Trường hợp khí và huyết đều kém, người mệt mỏi, vô lực, da xanh xao, gầy còm : đương quy 12g, hoàng kỳ 40g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 3 – 4 tuần lễ. Hoặc đương quy, nhân sâm (đảng sâm), bạch linh, bạch truật, bạch thược, thục địa mỗi vị 12g; xuyên khung 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền  3 – 4 tuần lễ; hoặc dùng dưới dạng viên hoàn, uống dài ngày. Trị chứng bế kinh, đau bụng kinh: đương quy, sinh địa, ngưu tất, hồng hoa, xuyên khung mỗi vị 6g; chỉ xác 8g; sài hồ, cam thảo mỗi vị 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Trị các chứng xuất huyết: đương quy, bồ hoàng, đại hoàng, hòe hoa, a giao mỗi vị 30g. Tất cả các vị thuốc đều tán sao, thêm mật ong làm hoàn, ngày 2 lần, mỗi lần 10g. Trị tiêu hóa kém do tỳ hư dẫn đến khí huyết đều kém, cơ thể gầy yếu, kém ăn, kém ngủ: đương quy, viễn chí, cam thảo mỗi vị 4g; bạch truật, hoàng kỳ, bạch linh, hắc táo nhân mỗi vị 12g; đảng sâm, mộc hương mỗi vị 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Do trong thành phần có chứa tinh dầu, mùi vị rất thơm ngon, đương quy còn được sử dụng trong chế biến các món ăn hằng ngày, vừa có giá trị dinh dưỡng cao, vừa có tác dụng chữa bệnh Lưu ý: Do đương quy có tính nhuận hoạt tràng nên những người bị viêm đại tràng thể hàn, phân thường xuyên nát, lỏng không nên dùng.

Kênh video về Hồng Hạnh

Hình ảnh trước sau